Danh mục
THEO DÕI TRÊN: Facebook Youtube Tiktok

Từ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đến cội nguồn sức mạnh dân tộc

Ngày 6/12/2012, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây cũng là tín ngưỡng đầu tiên của thế giới được UNESCO vinh danh.
+
aa
-

Biểu tượng của cội nguồn sức mạnh dân tộc

Sự công nhận của UNESCO một lần nữa nhắc nhở chúng ta ý thức về cội nguồn văn hóa của dân tộc. Từ việc thờ cúng Vua Hùng, chúng ta có được nghĩa “đồng bào”, đó là hình tượng cô đọng và tiêu biểu nhất cho một hình ảnh cùng gốc gác, tổ tông. Hình tượng văn hóa ấy luôn nhận được sự đồng cảm của mọi người dân đất Việt. Trong những lúc khó khăn, cần sự đoàn kết, mỗi khi từ “đồng bào” được vang lên là một lần nhắc nhở cho tất cả nhân dân Việt Nam cố gắng, nỗ lực vì một niềm tin thiêng liêng vào sự độc lập và thống nhất của dân tộc. Bắt nguồn từ tính chất thiêng liêng ấy, trong Tuyên ngôn độc lập, từ “đồng bào” được Bác Hồ nhắc lại đến bốn lần, và ngay cả khi Bác nói: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”, là lúc cả triệu con tim Việt Nam đều cảm thấy dòng máu Lạc Hồng chảy trong mình, thôi thúc mọi người đứng lên chiến đấu, bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc.

Một đặc điểm có giá trị nữa của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là đã tạo ra sự đồng lòng của mọi người Việt Nam, vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian. Chúng ta biết rằng, bất kì một hiện tượng văn hóa nào cũng nhận được sự đánh giá khác nhau ở những người khác nhau và ở các thời điểm khác nhau. Hiếm có một hiện tượng văn hóa nào nhận được sự đánh giá đồng tình, tích cực xuyên thời gian và không gian. Tuy nhiên, điều ấy không đúng với trường hợp Tín ngưỡng, thờ cúng Hùng Vương. Khi nói về công ơn của các Vua Hùng, mọi người dân đất Việt đều thể hiện lòng tôn trọng. Hằng năm, có hàng triệu người hành hương về Đất Tổ. Những người không có cơ hội hành hương về Đất Tổ cũng luôn mong ngóng có ngày được trở về mảnh đất thiêng của dân tộc.

Từ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đến cội nguồn sức mạnh dân tộc

Đền thờ Vua Hùng được Nhân dân lập ở nhiều nơi như một nơi thờ vọng để những người chưa có cơ hội đến Đền Hùng có thể thực hành nghi lễ và bày tỏ lòng biết ơn của mình. Chính vì vậy mới có câu ca rằng:

Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng Ba/ Khắp miền truyền mãi câu ca/ Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở thành biểu tượng của lòng yêu nước

Đối với một tín ngưỡng, thông thường luôn có những sự nhìn nhận khác nhau bởi các chế độ chính trị, triều đại khác nhau. Tuy nhiên, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nhận được sự tôn trọng và đánh giá cao của mọi triều đại, chế độ chính trị. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy rằng, tục thờ cúng Hùng Vương đã có từ rất lâu trong lịch sử của dân tộc. Trước khi được Nhà nước công nhận như một nghi lễ cấp Quốc gia, việc thờ cúng Hùng Vương được người dân địa phương tiến hành hằng năm thông qua các lễ cầu tại các đình, đền, miếu trong các làng đó. Từ khi Hùng Vương được triều đình nhà Lê chính thức xác nhận trong “sự nghiệp phục hưng văn hóa dân tộc lần thứ hai diễn ra vào thế kỉ XV”, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở thành một nghi lễ địa phương được quốc gia hóa, đáp ứng nhu cầu khẳng định quyền độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc trong tư thế đối trọng với một quốc gia lớn hơn mà nó vừa thoát khỏi ách chiếm đóng.

Như vậy, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là kết quả của quá trình phát triển lịch sử, kết tinh văn hóa dân gian, văn hóa bác học, vừa từ dưới lên, vừa từ trên xuống, trong ra, ngoài vào. Nó là nhu cầu của một quốc gia và quan trọng, nó tạo ra sự đồng thuận của toàn dân tộc. Nhờ vậy, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trở thành biểu tượng của lòng yêu nước. Chính nhờ biểu tượng về lòng yêu nước ấy, tín ngưỡng này đã vượt qua mọi sự khác biệt để trường tồn cùng dân tộc.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta có thể nhận thấy nhu cầu xây dựng biểu tượng quốc gia của Nhà nước quân chủ. Xây dựng biểu tượng Hùng Vương là một trong những việc làm quan trọng (cùng Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, …) tạo nên hệ ý thức Việt Nam trong buổi đầu dựng nước. “Nghĩa đồng bào, lập quốc bằng hợp nhất; vì nước quên mình; trừ bạo an dân; đạo thờ tổ tiên và thờ anh hùng. Đó là những vũ khí tinh thần, vũ khí văn hóa cơ bản nhất của người Văn Lang đã sáng tạo, những vũ khí đã góp phần cứu Văn Lang sau hơn nghìn năm Bắc thuộc đã không bị đồng hóa, lại được hồi sinh với bản sắc dân tộc đậm đà hơn, với sinh lực dân tộc mãnh liệt hơn”.

Như vậy, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là niềm tự hào của người dân Việt Nam không chỉ vì đây là một di sản được thế giới công nhận và tôn vinh mà còn là biểu tượng của cội nguồn, sức mạnh tiềm tàng của dân tộc. Từ triết lí “con người có tổ, có tông”, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành một bản sắc văn hóa trong cuộc sống tinh thần của cộng đồng người Việt từ hàng nghìn năm nay. Việc thờ cúng Hùng Vương đóng vai trò quan trọng trong tâm thức của người Việt, tạo nên đạo lí đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển. Giỗ Tổ Hùng Vương nhằm giáo dục đạo lí truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, là điểm tựa tinh thần đưa các thế hệ con cháu cùng về một cội nguồn, sống hòa hợp.

Thờ cúng Hùng Vương như tổ tiên chung của dân tộc Việt, trở thành một biểu tượng kết nối giữa quá khứ với hiện tại. Việc UNESCO vinh danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một sự thừa nhận giá trị, ý nghĩa của tín ngưỡng này đối với người dân Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung và càng tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc củng cố niềm tin của người dân Việt Nam vào sức mạnh dân tộc trong tương lai.

Trương Thọ (tổng hợp)
Tags: Nhớ ngày Giỗ Tổ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thờ cúng Vua Hùng

Tin liên quan

Tin tức bạn quan tâm

Dân ta phải biết sử ta!

Đền Đại An: miền di sản tâm linh bên thượng nguồn sông Hồng

Giữa núi non trùng điệp nơi thượng nguồn sông Hồng, Đền Đại An hiện lên như một khoảng lặng linh thiêng giữa đại ngàn. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, ngôi đền không chỉ là nơi gửi gắm đời sống tâm linh của cư dân bản địa mà còn lưu giữ nhiều lớp ký ức văn hóa, lịch sử của miền sơn cước bên dòng sông Hồng.
Dân ta phải biết sử ta!

Tiếng trống gìn giữ hồn cội nguồn của dòng họ Nguyễn Như

Giữa vùng quê giàu truyền thống văn hóa của xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An – nơi trước đây thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành cũ – tiếng trống tế của dòng họ Nguyễn Như vẫn vang lên đều đặn qua nhiều thế hệ như một nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại. Không chỉ là âm thanh của nghi lễ, tiếng trống ấy còn là biểu tượng của lòng thành kính tổ tiên, của tinh thần đoàn kết và ý thức gìn giữ di sản văn hóa dòng họ.
Dân ta phải biết sử ta!

Bế mạc Giải Tennis Báo chí Nghệ An lần thứ VIII năm 2026

Sau 2 ngày tranh tài sôi nổi và hấp dẫn, tối 30/5, Giải Tennis Báo chí Nghệ An lần thứ VIII năm 2026 đã chính thức bế mạc. Với sự tham gia của 282 vận động viên đến từ nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, giải đấu đã mang đến những trận cầu chất lượng, góp phần lan tỏa phong trào tennis và tăng cường giao lưu, kết nối trong cộng đồng yêu thể thao.
Dân ta phải biết sử ta!

Niềm tự hào, khát vọng vươn lên từ những giá trị tốt đẹp trong bài thơ “Mừng Phật Đản”!

Từ cảm hứng về Thiền phái Trúc Lâm và vẻ đẹp thanh tịnh của đất Phật Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, bài thơ "Mừng Phật đản" của tác giả Hồng Gai đã gửi gắm niềm tự hào về truyền thống văn hóa - tâm linh dân tộc, đồng thời khơi dậy khát vọng an hòa, đoàn kết và phát triển của quê hương, đất nước trong thời kỳ mới.
Dân ta phải biết sử ta!

Miền di sản tâm linh bên thượng nguồn sông Hồng

Giữa núi non trùng điệp nơi thượng nguồn sông Hồng, Đền Đại An hiện lên như một khoảng lặng linh thiêng giữa đại ngàn. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, ngôi đền không chỉ là nơi gửi gắm đời sống tâm linh của cư dân bản địa mà còn lưu giữ nhiều lớp ký ức văn hóa, lịch sử của miền sơn cước bên dòng sông Hồng.
Dân ta phải biết sử ta!

Già làng Đinh Nê - người kể chuyện đổi thay nơi bản Arem

Có một thời, tộc người Arem sống biệt lập trong những hang đá giữa vùng lõi Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tách rời hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Khi lực lượng biên phòng phát hiện, kiên trì vận động bà con rời hang xuống lập bản, cuộc sống nơi đây dần thay đổi: có mái nhà để ở, biết làm nương rẫy, con trẻ được học chữ. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hành trình đổi thay ấy hiện lên rõ nét qua ký ức của già làng Đinh Nê như một chứng nhân sống của bản làng Arem hôm nay...
Based on MasterCMS Ultimate Edition 2026 v2.9